Tìm hiểu loài chuột

Tìm hiểu loài chuột

Sinh sản của chuột chịu ảnh hưởg của rất nhiều nhân tố ngoại cảnh: thức ăn, nhiệt độ, độ ẩm, nơi ở, bệnh tật…, tất cả những yếu tố này đồng thời cùng tác động đến đời sống của chuột. Vì vậy sinh sản của chuột hoặc tăng cường hoặc bị hạn chế do điều kiện hoàn cảnh của thời gian đó quyết định.

Phải dựa vào đặc tính sinh lý của chuột, tạo cho chuột những phản xạ có điều kiện rồi diệt chuột bằng bẫy và hóa chất, đặt mồi nhử để nhử ra nhiều lần tạo thói quen ra ăn sau đó dùng hóa chất để trộn vào thức ăn của chúng, kết hợp với việc đặt bẫy diệt chuột.

Theo tập quán, chuột không sống ở một nơi cố định mà hay di chuyển để tìm kiếm thức ăn. Chúng có thể hoạt động trong bán kính gần 1km. Tùy mật độ chuột ở khu vực xung quanh điểm bảo vệ cao hay thấp mà tốc độ chuột tái xâm nhập sẽ nhanh hay chậm.

Như chúng ta đã biết,chuột là loài gặm nhắm. Đồ dùng của chúng ta xưa nay vẫn là “vật mài răng”của chuột . Chúng có thói quen gặm nhấm mọi thứ cây trồng, đồ dùng trong nhà hay ở bất cứ nơi nào nó cư trú, hoạt động. Đó là vì răng cửa chuột không ngừng mọc dài ra. Người ta thí nghiệm, đo đạc thì thấy rằng, mỗi năm răng cửa trên của chuột, cụ thể là chuột trưởng thành, có thể dài ra trung bình 114,3mm ; còn răng cửa dưới dài ra trung bình 1.146,1mm. Cứ đà ấy, con chuột sẽ chết vì không sao ăn uống được. Nếu chỉ đào hang rũi đất nhấm hạt ngũ cốc… dù răng có mài mòn đáng kể, vẫn không triệt tiêu được tốc độ dài ra của răng cửa ấy. Vậy chuột phải gặm nhấm. Chúng gặm, phá mọi thứ từ cây, củi gỗ đến đồ dùng của chúng ta, kể cả đồ gia bảo. Gặm đồ cứng tất yếu có răng bị mẻ gãy. Không sao, tế bào gốc răng của chuột sinh trưởng mạnh, liên tục, không ngừng tạo những tế bào và men răng mới bù đắp phần răng bị sứt mẻ kia, rất mau chóng. Nếu không biết cách để ngăn chặn thì sẽ gây hậu quả khôn lường…

Tác hại của chuột:

Phá hoại 33 triệu tấn lương thực hằng năm (đủ nuôi sống 200 triệu người/ năm). Làm ô nhiễm 3 lần lượng thức ăn mà nó tiêu thụ do phân, nước tiểu, lông và mầm bệnh. Phá hoại các công trình xây dựng, đường xá, nhà xưởng, trang thiết bị… Chuột là loài gặm nhắm, răng cửa phát triển liên tục, có thể gặm nát gỗ, dây điện, ống nước, đào hang, phá hủy nhà cửa, kho bãi, bao bì… làm tăng chi phí sửa chữa, làm ngừng trệ sản xuất, đôi khi gây hỏa hoạn thêu hủy các công trình, tài sản… Quấy nhiễu, gây tổn thương đàn gia súc, làm giảm năng suất sữa, trứng và thịt…Chuột mang hơn 200 loại mầm bệnh gồm virus, vi khuẩn, nấm, kí sinh trùng như lở mồm long móng, giả dại, dịch tả, cúm gia cầm, PRRS,mycoplasma,thương hàn, lepto, E.coli, nấm phổi, cầu trùng, giun sán, viêm não, dịch hạch… Một bãi phân chuột chứa khoảng 230.000 vi khuẩn Salmonella.

Những dấu hiệu có chuột đồng trong nhà Chuột thường hoạt động về đêm và tránh con người, nên các dấu hiệu điển hình để nhận biết rằng có chuột trong nhà là:
– Có các tiếng kêu sột soạt trên tường hay dưới sàn nhà khi đàn chuột chạy qua.
– Phân chuột– chuột nhà:hình trục khoảng 12mm; chuột cống: viên nang hình elip khoảng 20mm
– Có mùi đặc trưng– chuột cống thường để lại mùi giống như mùi khí ammoniac và đặc biệt trở nên nặng hơn khi ở những nơi kín như dưới gần tủ chén.
– Phá hoại– chuột đồng có răng phát triển liên tục và chúng gặm nhấm những đồ làm bằng gỗ và nhựa để mài răng. Chuột đồng còn có thể gây hỏa hoạn do chúng nhai đứt dây điện.
– Bao bì đựng đồ ăn bị rách– chuột thường xé để mở túi đựng đồ ăn và để lại các dấu rang cắn.
– Tổ chuột– chuột cống thường làm tổ ở những nơi ấm áp, khuất sử dụng các chất liệu được nghiền nát như giấy báo và vải sợi. Trong tổ thường có những con chuột nhắt.
– Những vết đào bới– trong vườn, chuột cống thường đào các lỗ đặc biệt trong các đống phân ủ hay dưới gầm chuồng trại. Chúng còn làm tổ dưới ván sàn trong vườn.
Tìm hiểu sơ bộ về chuột:

Bộ lông chuột có những lông “cảnh giác” dài, rất nhạy cảm và có vai trò trong thăm dò, tìm kiếm thức ăn. Những râu mép trên mặt chuột là cơ quan rất nhạy cảm, nhờ râu mà chuột có thể phán đoán kích thước các lỗ hổng cũng như kích thước của hang. Xúc giác của chuột đóng vai trò trong việc tìm kiếm, xác định đường đi. Khứu giác của chuột rất nhạy bén và có vai trò quan trọng. Khi kiếm ăn, chuột chủ yếu sử dụng bộ phận khứu giác nhạy cảm để phân biệt thức ăn và những cá thể khác, chuột thường thông qua mùi có thể phân biệt được các thành viên trong bầy với những kẻ lạ mặt và có thể phát hiện hoặc né tránh các đồ vật, bẫy có mùi của con người. Chuột gần như không phân biệt được màu sắc của vật thể nhưng chuột có thể phát hiện mồi độc ở nồng độ rất thấp (0,5 PPM). Tuy nhiên khi ăn mồi độc, mùi vị thức ăn sẽ lấn át được mùi vị thuốc nên chuột vẫn ăn mồi độc bình thường.

Trong lúc vận động, thính giác nhạy cảm và các bộ phận giác quan là lông mao phủ trên toàn bộ cơ thể chuột, râu sẽ giúp cho chuột hoạt động trong đêm tối dễ dàng và phát hiện rất nhanh hướng của kẻ thù. Đây cũng là một trong những thích nghi rất cao của chuột trong điều kiện sống, kiếm ăn gần người về tính năng bảo vệ.

Chuột không những có các bộ phận giác quan nhạy cảm mà ở chúng khả năng vận động cũng rất linh hoạt. Nhờ khả năng này mà chuột có thể đến được những nơi cao, kín đáo… và lẩn trốn dễ dàng.

Chuột cống và chuột nhà có khả năng chui qua mọi lỗ hổng đường kính 2 cm trở lên. Leo trèo dễ dàng trên các dây mắc ngang và đường thẳng đứng. Khi gặp nguy hiểm có thể nhảy xa 1 đến 2 m và từ độ cao 15 m nhảy xuống đất mà không bị chết.Chuột cũng có thể leo trèo cây, leo dây, ống thoát nước… thẳng đứng để chui vào nhà, lên tầng nhà cao và di chuyển từ nhà này sang nhà kia.Khả năng bơi của chuột cống cũng rất lớn. Chúng có thể bơi xa tới 0,8 km và bơi ngược dòng nước chảy. Chuột nhà còn có thể leo được lên mái ngói và các mặt tường xù xì thẳng đứng…

Tập tính ăn của chuột: Thức ăn có lẽ có tính chất quyết định nhất lên đời sống của chuột. Đa số các loài chuột ăn tạp, thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật. Tuy nhiên, những loài chuột khác nhau sẽ ở những địa phương khác nhau lại có những ưa thích riêng. Chuột cống rất ưa thích các loại thức ăn thừa của người. Chuột nhà, chuột nhắt… lại ưa thích ăn những loại có hạt có chất dinh dưỡng lớn hơn. Ngũ cốc, hoa quả, sâu bọ, cua cá…vẫn là nguồn thức ăn chủ yếu của chuột. Mức độ ưa thích mồi mang tính địa phương là do điều kiện sống ở từng địa phương chi phối. Nhu cầu về thức ăn và nước uống của chuột là khá lớn tùy thuộc vào loại và thể loại thức ăn mà loại chuột đó sử dụng.
Chuột nhắt, chuột nhà có nhu cầu thức ăn hạt lớn hơn nhiều so với chuột cống. Chuột cống cần nước nhiều hơn chuột nhắt và chuột nhà. Các loài chuột thường rất thận trọng khi gặp một loại thức ăn mới. Với loại thức ăn này thời gian đầu chúng chỉ thường nếm thử, sau mới ăn thật. Thức ăn hấp dẫn nhất với chuột là những thức ăn có sẵn ở địa phương.

Đặc điểm hoạt động:

Theo giai đoạn phát triển, nguồn thức ăn, các hoạt động sinh lý của chuột có thể thay đổi. Chẳng hạn khi còn nhỏ dưới 1 tháng tuổi chúng không ra khỏi hang, sau đó chúng theo mẹ ra ngoài. Từ 3 tháng trở đi là thời kỳ chúng hoạt động mạnh nhất. Khi chuột chửa và cho con bú, cường độ hoạt động có giảm. Khi về già, khoảng trên 1 năm rưỡi, hoạt động của chuột giảm rõ rệt.

Chuột khá nhanh nhạy, hay “đa nghi” trong hoạt động sống của chúng rất thận trọng, dè dặt, chuột thường đi theo lối mòn cố định nên con người thường tìm lối đi của chuột để đặt bẫy. Khi chúng hoạt động thường các con nhỏ ra khỏi nơi ẩn nấp trước, sau các con lớn mới xuất hiện. Nơi hoạt động là những nơi có nhiều thức ăn, xung quanh tổ và một số nơi khác. Chẳng hạn như chuột cống không ở hang trong nhà suốt năm mà có 4 – 6 tháng chuyển ra sống ở cạnh rãnh nước, bờ sông, bờ mương, ruộng lúa… Chuột thường kiếm thức ăn ở những khu vực cố định và hơi xa nơi ở của chúng. Khi ra nơi kiếm ăn thường đi theo những đường mòn cố định. Đường mòn này thường men theo chân tường, đồ vật hoặc có những vật khác che khuất
Chuột nhà thường đứng, đi hoặc chạy bằng cả bốn chân, nhưng khi ăn, khi đánh nhau hoặc khi cần định hướng thì chúng chỉ đứng trên hai chân sau, có đuôi hỗ trợ. Khi chạy, đuôi chuột nằm ngang để tạo cân bằng; đoạn cuối của đuôi dựng đứng, trừ khi nó thấy sợ hãi điều gì. Chuột nhà giỏi nhảy, leo trèo và bơi lội. Thời gian hoạt động, chuột ít hoạt động vào ban ngày chủ yếu là ban đêm, hầu hết các loài chuột đều bắt đầu hoạt động kiếm ăn vào lúc chập tối: chuột cống 19 giờ hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau, chuột nhà 17 giờ đến 6 giờ, hoạt động mạnh nhất là từ 20 giờ đến 24 giờ. Một số ít loài như chuột hoang đồng cỏ hoạt động ban ngày. Khi mưa bão chúng ẩn nấp trong hang. Nếu trong một lãnh thổ có 2 – 3 loài cùng sinh sống thì chúng phải “lựa” để không va chạm lẫn nhau. Chẳng hạn nếu có chuột cống và chuột nhà cùng một địa điểm thì chuột nhà trước đây hoạt động chủ yếu trong đêm, nay sẽ chuyển thời gian hoạt động vào ban ngày.

Đặc điểm sinh sản của chuột

Thường thì cứ mỗi 3 tuần. Trung bình một con chuột cái sinh từ 4 đến 7 lứa mỗi năm, mỗi lứa chuột lớn có thể đẻ từ 8 đến 12 con, chuột nhắt là từ 4 đến 6 con và có thể nuôi sống từ 40 đến 60% tùy theo loài. Vì vậy trung bình một năm mỗi con chuột cái có thể đẻ 30 đến 40 con chuột con và nuôi trưởng thành khoảng 20 con (đối với loài chuột nhắt).

Thời kỳ sinh sản sung mãn nhất của chuột lớn thường là mùa xuân và mùa thu. Chuột nhắt thường không biểu hiện thời kì sinh đẻ sung mãn nhất, nhưng chúng đẻ liên tục không ngớt trong suốt năm. Vì những loài gặm nhấm nói chung, loài chuột nói riêng thường đạt đến độ trưởng thành trong khoảng khoảng 2 đến 3 tháng sau khi sinh nên số lượng cá thể gia tăng trong quần thể chuột từ một cặp riêng lẻ có thể lên đến 15,000 con trong vòng 1 năm.

Tuổi thọ trong phòng thí nghiệm là 2 năm, nhưng chuột nhắt hoang sống trung bình chỉ khoảng 5 tháng. Chuột cống dài 18cm, nặng: 200-400g, sống hoang 18 tháng và khoảng 3 năm trong phòng thí nghiệm.

Quan hệ xã hội các loài chuột:

Trong xã hội các loài chuột, quan hệ xã hội mang tính mạnh yếu rõ rệt. Thường những con to khỏe lấn át những con bé, yếu. Tính chất này không những thể hiện trên cùng một loài mà còn ở những loài khác nhau. Trên một khu vực kiếm ăn, thường có nhiều loài cùng chung sống để tận dụng tối đa nguồn thức ăn và nơi ở của nơi đó, những con chuột to khoẻ sẽ chiếm những vị trí thức ăn phong phú hơn, thuận lợi hơn, nơi ẩn náu kín đáo hơn… còn những con nhỏ hơn thì phải sống ở những nơi điều kiện ít thuận lợi hơn và phải kiếm ăn khi các con to vắng mặt.

Trong các đợt tiêu diệt chuột bằng mồi độc, bẫy thường thấy những ngày đầu chuột cống chết và sa vào bẫy nhiều hơn, còn ngày sau đấy là chuột nhà, chuột lắt, chuột nhắt nhà… hoặc những con chuột còn non. Điều này có lẽ do tính chất của mối quan hệ trên chi phối. Chuột cống là loại chiếm cứ trên đất, còn chuột nhà, chuột nhắt nhà… thì bị đẩy lên mái nhà tầng trên cao, nên khi chuột cống giảm, chuột nhà, chuột nhắt nhà… xuống sàn nhà kiếm thức ăn tự do hơn. Điều này có lẽ giải thích phần nào vì sao đêm đầu đánh mồi độc và đặt bẫy chuột vẫn nhiều. Trong một phạm vi giới hạn của tính chất này, yếu tố cạnh tranh giao loài có thể cũng có một vai trò nhất định trong phân chia vùng sống và quan hệ xã hội.

Đặc tính sinh học chung nhất:

– Dành 40% thời gian để liếm lông, chân.

– Các giác quan (khứu, vị, thính và xúc giác rất nhạy cảm).

– Khó tính và không ăn thức ăn cũ, ôi, mốc hay có kiến.

– Di chuyển theo đường xác định (thường dọc theo bờ tường, nhưng tránh những chỗ hở).

– Dễ hình thành tính sợ bã khi thấy những chuột khác ăn bã và chết ngay.

– Sinh sản rất nhanh theo cấp số nhân; 1 cặp chuột sinh ra 800 con sau 1 năm, 1 triệu(1,000,000) con sau 2 năm.